HỆ MIỄN DỊCH VÀ VACCINE

5factsvaccines-01

Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO, vaccine là một chế phẩm sinh học giúp cải thiện miễn dịch của cơ thể với một bệnh cụ thể. Một vaccine thông thường chứa một tác nhân tương tự một vi sinh vật gây bệnh, và thường được tạo ra từ các dạng suy yếu hay bất hoạt của vi khuẩn, độc tố của vi khuẩn hoặc một protein bề mặt của vi khuẩn. Tác nhân này kích thích hệ miễn dịch cơ thể nhận ra tác nhân này là vật lạ, phá hủy nó, và “ghi nhớ” nó, từ đó hệ miễn dịch có thể dễ dàng hơn trong việc nhận ra và phá hủy bất kì vi sinh vật nào tương tự mà cơ thể gặp phải sau này. [1]

Để hiểu làm thế nào và tại sao vaccine có thể có tác dụng như vậy, trước tiên chúng ta cần hiểu hệ thống miễn dịch của con người là gì và chúng làm việc như thế nào để bảo vệ cơ thể chống lại sự nhiễm trùng.

Cơ thể bạn làm gì khi có “vật thể lạ” xâm nhập

Hệ miễn dịch là một mạng lưới các tế bào, mô, cơ quan phối hợp với nhau giúp bảo vệ cơ thể khỏi các mầm bệnh gây hại[11]. Chức năng cơ bản của hệ miễn dịch là xác định và tiêu diệt các chất lạ trong cơ thể (bao gồm vi khuẩn, virus, nấm, kí sinh trùng, kể cả là các cơ quan hay các mô được cấy ghép) và phát triển một hệ thống phòng thủ chống lại chúng. Sự phòng vệ này gọi là phản ứng miễn dịch. Đáp ứng miễn dịch thường được chia thành miễn dịch bẩm sinh (hay miễn dịch tự nhiên-innate/natural/native immunity) và miễn dịch thích ứng (hay miễn dịch thu được-acquired immunity, miễn dịch đặc hiệu-specific immunity).[3]

Mỗi vi khuẩn có phân tử đặc trưng, gọi là các kháng nguyên (antigents), đây là điểm phân biệt vi khuẩn có hại với những vi khuẩn vô hại cư trú trong cơ thể và các tế bào là một phần của cơ thể[8]. Mỗi vi khuẩn có các kháng nguyên đặc hiệu, đây là nền tảng để chế tạo vaccine.Hệ miễn dịch phản ứng với các loại vi khuẩn và vi rút theo một cách rất phức tạp: hệ miễn dịch nhận ra các phân tử đặc hiệu (các kháng nguyên – chất lạ đối với cơ thể, kích thích sản sinh kháng thể) từ các vi khuẩn và vi rút và sản sinh kháng thể (một loại protein) và các tế bào bạch cầu đặc biệt gọi là tế bào lympho đánh dấu các kháng nguyên cần tiêu diệt. Trong đáp ứng miễn dịch lần đầu tiên với lần đầu tiếp xúc với một mầm bệnh xác định, một vài tế bào lympho gọi là tế bào nhớ có phát triển khả năng miễn dịch lâu dài với mầm bệnh, thường là suốt đời. Các tế bào nhớ này nhận ra kháng nguyên của mầm bệnh đã gặp trước đó, kích thích hệ miễn dịch đáp ứng nhanh hơn và hiệu quả hơn lần tiếp xúc đầu tiên [3].

cochemiendch-01
Cơ chế của phản ứng miễn dịch

Lịch sử của vaccine và chương trình tiêm chủng

1-01
Lịch sử của chương trình tiêm chủng
lichsuvaccine-01
Lịch sử của Vaccine

Vaccine tác động như thế nào

Tiêm vaccine là một cách để đào tạo hệ miễn dịch chống lại một mầm bệnh cụ thể. Cơ thể được ghi nhớ miễn dịch với một kháng nguyên mà không bị nhiễm thực sự. Cơ thể được chuẩn bị trước khi mầm bệnh xâm nhập, từ đó có thể ngăn chặn mầm bệnh hình thành và lây nhiễm sang nhiều tế bào trong cơ thể. Mục tiêu của thiết kế vaccine là chọn các kháng nguyên đặc hiệu tạo miễn dịch nhớ hiệu quả nhất để chống lại một mầm bệnh cụ thể.[3],[7]

Mục tiêu của vaccine là tạo ra phản ứng miễn dịch chống lại kháng nguyên, khi cơ thể tiếp xúc lại với kháng nguyên đó sẽ xảy ra phản ứng miễn dịch thứ hai mạnh hơn, hệ thống miễn dịch có thể nhanh chóng tiêu diệt chúng trước khi chúng gây bệnh.[5],[8]

immunity

Các loại vaccine

Có nhiều loại vaccine được phân loại theo kháng nguyên sử dụng trong chế phẩm, điều đó ảnh hưởng tới cách sử dụng, bảo quản và quản lý vaccine. [9]

  • vaccine chứa vi sinh vật sống/suy yếu: chứa vi khuẩn đã bị làm suy yếu để không thể gây bệnh, đây là tác nhân gần nhất với nhiễm trùng tự nhiên, tạo ra đáp ứng miễn dịch mạnh và kháng thể tồn tại suốt đời chỉ với 1-2 liều. Tuy nhiên nó cũng có một số nhược điểm: bản chất là các sinh vật sống bị suy yếu nên có thể trở lại dạng độc lực gây bệnh, không an toàn cho tất cả mọi đối tượng (người có hệ miễn dịch suy yếu như bệnh nhân hóa trị, bệnh nhân HIV không thể sử dụng), và cần được bảo quản lạnh. Một số vaccine thuộc nhóm này là vaccine phòng sởi, quai bị, thủy đậu…
  • vaccine chứa vi sinh vật bất hoạt: vi khuẩn bị tiêu diệt bằng hóa chất, nhiệt hoặc bức xạ. Loại vaccine này ổn định và an toàn hơn, không cần làm lạnh nên có thể dễ dàng lưu trữ và vận chuyển ở dạng đông khô. Tuy nhiên, hầu hết vaccine bất hoạt gây phản ứng miễn dịch yếu hơn nên cần tiêm nhắc lại để duy trì miễn dịch của cơ thể.
  • vaccine tiểu đơn vị: thay vì chứa toàn bộ vi sinh vật, loại này chỉ chứa các kháng nguyên kích thích tốt nhất hệ miễn dịch, do vậy khả năng xảy ra phản ứng bất lợi thấp hơn. vaccine viêm gan B là một loại vaccine tiểu đơn vị tái tổ hợp.
  • vaccine chứa độc tố: chứa độc tố vi khuẩn đã được bất hoạt bằng formalin được gọi là “toxoid”. Loại này được sử dụng khi độc tố vi khuẩn là nguyên nhân chính gây bệnh. Loại vaccine này tương đối an toàn khi sử dụng. vaccine bạch hầu và vaccine uốn ván là hai loại vaccine chứa độc tố đang được sử dụng.
  • vaccine liên hợp: là một loại của vaccine tiểu đơn vị. Một số vi khuẩn có khả năng tạo ra lớp vỏ là các phân tử đường, được gọi là polysaccharides. Lớp vỏ này giúp che đi các kháng nguyên nên hệ miễn dịch chưa trưởng thành của trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ không thể nhận diện. vaccine liên hợp có thể tránh điều này. Các kháng nguyên hoặc độc tố vi khuẩn đã được bất hoạt của loại vi sinh vật có có lớp vỏ polysaccharides có thể được nhận diện bởi hệ miễn dịch chưa trưởng thành được liên kết vào thành phần của vi khuẩn gây bệnh, từ đó hệ miễn dịch có thể phản ứng và tiêu diệt vi khuẩn gây bệnh. vaccine Haemophilusenzae loại B (Hib) là vaccine liên hợp
  • vaccine kết hợp: là loại vaccine chứa từ 2 kháng nguyên trở lên trong cùng chế phẩm (ví dụ: vaccine sởi – quai bị – rubella MMR, vaccine bạch hầu – uốn ván – ho gà DTP…). vaccine kết hợp trải qua thử nghiệm rộng rãi trước khi được cơ quan quản lý quốc gia (NRA) phê duyệt để đảm bảo rằng các sản phẩm thật sự an toàn, hiệu quả. Các vaccine kết hợp mang đến nhiều lợi thế rõ rệt như là: giảm chi phí quản lý, giảm chi phí thăm khám sức khỏe, giảm số lần tiêm cho trẻ và dễ dàng bổ sung vaccine mới vào chương trình tiêm chủng.[12]

PLV-01

Vaccine có an toàn không

Hệ miễn dịch của mỗi người hoạt động khác nhau, vì vậy đôi khi có người sẽ không đáp ứng miễn dịch với một vaccine. Rất hiếm khi một người có thể gặp phản ứng bất lợi nghiêm trọng với vaccine, ví dụ như phản ứng dị ứng gây ra phát ban hoặc khó thở. Nhưng các phản ứng nghiêm trọng không thường gặp vẫn được báo cáo – khoảng 1/100.000 lần tiêm chủng – dù có thể khó phát hiện và báo cáo. Thông thường hơn, có thể gặp các phản ứng phụ tạm thời như sốt, đau nhức, hoặc đỏ ở chỗ tiêm. Những phản ứng phụ gặp phải khi sử dụng vaccine, tất nhiên, vẫn tốt hơn là mắc bệnh.

Để vaccine an toàn nhất có thể, Cục Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) yêu cầu nghiên cứu và thử nghiệm rộng rãi trước khi cấp phép cho vaccine đó được sử dụng thông dụng.

Thời gian từ khi khám phá ra một tác nhân gây bệnh và sản xuất một vaccine được lưu hành rộng rãi kéo dài tới 50 năm. Hiện nay, với sự tiến bộ của công nghệ và phương pháp nghiên cứu, thời gian từ nghiên cứu cơ bản tới lưu hành của một vaccine được cấp phép đôi khi có thể được rút ngắn. Khi một vaccine được phê duyệt, FDA và các cơ quan chính phủ tiếp tục theo dõi để đảm bảo an toàn [13].

Một phản ứng bất lợi sau tiêm chủng (AEFI) là bất kỳ sự cố y khoa nào xảy ra sau khi tiêm chủng và không nhất thiết có liên hệ với việc sử dụng vaccine. AEFI được chia thành 5 loại: Phản ứng liên quan đến sản phẩm vaccine; Phản ứng liên quan đến khiếm khuyết trong chất lượng vaccine; Phản ứng liên quan đến sai sót tiêm chủng; Phản ứng lo âu liên quan đến tiêm chủng và Sự cố ngẫu nhiên [6].

Trong các điều kiện được khuyến nghị, vaccine là tương đối an toàn, ngăn ngừa bệnh và không gây tác dụng phụ. Tuy nhiên vẫn có tỷ lệ nhất định các phản ứng bất lợi [6]

Tần suất Tỷ lệ % xuất hiện ở những người tiêm vaccine Mức độ nghiêm trọng của phản ứng
Rất phổ biến ≥ 10% Phản ứng không nghiêm trọng thường gặp:

-Là một phần của phản ứng miễn dịch với vaccine

-Tự khỏi

Ví dụ: sốt, khó chịu…

Phổ biến ≥ 1% và < 10%
Không phổ biến ≥ 0,1% và < 1% Các phản ứng hiếm, thường nặng hơn:

-Thường cần theo dõi lâm sàng

-Ví dụ: phản ứng dị ứng nghiêm trọng (sốc phản vệ) bao gồm phản ứng quá mức với thành phần vaccine

Hiếm gặp ≥ 0,01% và < 0,1%
Rất hiếm < 0,01%

Thành tựu của chương trình tiêm chủng

  1. Trên Thế giới[2]2018-04-27-tg-tiem-chung-03-h84

    infographic-save-lives2-01

  2. Ở Việt Nam

Chương trình tiêm chủng mở rộng ở Việt Nam được thực hiện từ năm 1981 do Bộ Y tế khởi xướng với sự hỗ trợ của Tổ chức Y tế Thế giới WHO và Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc UNICEF [5]

2017-06-07-vn-tiem-chung-02-h84

Biên soạn: DS. Đỗ Thị Thu Thuỷ

Chỉnh sửa: DS. Phạm Trần Đan Thi

Hình ảnh, Infographic: Phạm Hoài Phương Lan-SV- ĐH Công Nghệ TPHCM

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Vaccines, WHO, https://www.who.int/topics/vaccines/en/
  2. https://www.who.int/campaigns/immunization-week/2017/infographic/en/
  3. How the immune system works, WHO,https://vaccine-safety-training.org/how-the-immune-system-works.html
  4. History of vaccine development, WHO,https://vaccine-safety-training.org/history-of-vaccine-development.html 
  5. How vaccines work, WHO,https://vaccine-safety-training.org/how-vaccines-work.html
  6. Adverse events: Frequency and severity, WHO,https://vaccine-safety-training.org/frequency-and-severity.html
  7. Features of an Immune response, National Institute of Allergy and Infectious Diseases (NIH), https://www.niaid.nih.gov/research/immune-response-features
  8. How vaccines work, National Institute of Allergy and Infectious Diseases (NIH), https://www.niaid.nih.gov/research/how-vaccines-work
  9. Vaccine types, National Institute of Allergy and Infectious Diseases (NIH), April 3, 2012, https://www.niaid.nih.gov/research/vaccine-types
  10. https://www.unicef.org/vietnam/vi/ti%C3%AAm-ch%E1%BB%A7ng
  11. NCI Dictionary of Cancer Terms,  National Cancer, Institute,https://www.cancer.gov/publications/dictionaries/cancer-terms/def/immune-system
  12. Combination vaccines, WHO,http://vaccine-safety-training.org/combination-vaccines.html
  13. Making safe vaccines, National Institute of Allergy and Infectious Diseases (NIH), https://www.niaid.nih.gov/research/making-safe-vaccines

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s