Tiền sản giật (P2): Yếu tố nguy cơ, biến chứng, điều trị

CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ:

  • Tiền sử tiền sản giật: tiền sử bản thân hoặc gia đình gia tăng đáng kể nguy cơ tiền sản giật ở thai kì hiện tại.
  • Tăng huyết áp mạn tính.
  • Mang thai lần đầu.
  • Bạn tình mới: mỗi lần mang thai với một người bạn tình mới làm tăng nguy cơ tiền sản giật nhiều hơn là mang thai thứ hai hoặc thứ ba với cùng một người bạn tình.
  • Tuổi tác: nguy cơ tiền sản giật cao hơn ở những thai phụ trẻ cũng như thai phụ trên 40 tuổi.
  • Béo phì.
  • Đa thai: tiền sản giật phổ biến ở những phụ nữ đang mang song thai, tam thai hoặc nhiều hơn.
  • Khoảng cách giữa các lần mang thai: khoảng cách thai kì thấp hơn 2 năm hoặc cao hơn 10 năm dẫn tới nguy cơ tiền sản giật cao hơn.
  • Tiền sử các bệnh khác, ví dụ như cao huyết áp mãn tính, chứng đau nửa đầu, tiểu đường type 1 hoặc type 2, bệnh thận, xu hướng phát triển cục máu đông hoặc lupus,… làm tăng nguy cơ tiền sản giật.

Image result for đau nửa đầu

  • Thụ tinh trong ống nghiệm.

BIẾN CHỨNG

Tiền sản giật càng xảy ra sớm thì nguy cơ cho thai phụ và thai nhi càng lớn. Thai phụ bị tiền sản giật có thể cần được gây chuyển dạ để sinh con. Mổ lấy thai (C-section) là cần thiết nếu tình trạng lâm sàng hoặc sản khoa đòi hỏi phải chấm dứt thai kì nhanh chóng.

Các biến chứng của tiền sản giật có thể bao gồm:

  • Thai chậm tăng trưởng: tiền sản giật ảnh hưởng đến các động mạch mang máu đến nhau thai. Nếu nhau thai không đủ máu, thai nhi có thể bị thiếu máu, oxy và chất dinh dưỡng. Điều này có thể dẫn đến tình trạng thai chậm tăng trưởng.
  • Sinh non: nếu thai phụ bị tiền sản giật với các biểu hiện nghiêm trọng, họ có thể phải được sinh sớm để giữ mạng cho cả hai. Sinh non có thể dẫn các vấn đề hô hấp và các vấn đề khác cho bé.

Image result for sinh non

  • Bong nhau thai: Tiền sản giật làm tăng nguy cơ bong nhau thai – tình trạng mà nhau thai bong ra khỏi thành tử cung của thai phụ trước khi sinh con. Nghiêm trọng hơn có thể gây ra chảy máu nặng, đe dọa tính mạng cho cả hai mẹ con.
  • Hội chứng HELLP (Hemolytic anemia – Elevated Liver enzymes – Low Platelet count). Hội chứng này bao gồm: thiếu máu tán huyết, tăng men gan và giảm tiểu cầu – là một dạng nghiêm trọng của tiền sản giật và có thể nhanh chóng đe dọa đến tính mạng cho cả thai phụ lẫn thai nhi.

 

  • Triệu chứng của hội chứng HELLP bao gồm buồn nôn và nôn, đau đầu và đau hạ sườn phải. Hội chứng HELLP đặc biệt nguy hiểm bởi vì nó biểu hiện cho sự tổn thương của nhiều cơ quan. Đôi khi, nó có thể phát triển đột ngột, ngay cả trước khi tình trạng tăng huyết áp được phát hiện hoặc nó có thể phát triển mà không có bất kỳ triệu chứng nào cả.
  • Sản giật: khi tiền sản giật không được kiểm soát thì tình trạng sản giật – mà về cơ bản là tiền sản giật có thêm co giật – có thể xuất hiện. Rất khó để dự đoán được bệnh nhân nào sẽ bị tiền sản giật nặng đến mức có thể dẫn đến chứng sản giật.
    • Thông thường, không có triệu chứng hoặc dấu hiệu cảnh báo để dự đoán tình trạng sản giật. Vì chứng sản giật có thể có hậu quả nghiêm trọng đối với cả mẹ và con, việc sinh con trở nên cần thiết bất kể thời gian của thai kì.

Image result for hellp syndrome

  • Tổn thương các cơ quan: tiền sản giật có thể tổn thương thận, gan, phổi ,tim, mắt, cũng như dẫn đến đột quỵ và một số tổn thương não khác. Mức độ tổn thương phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tiền sản giật.
  • Bệnh tim mạch: tiền sản giật có thể làm tăng nguy cơ mắc các bệnh tim mạch trong tương lai. Nguy cơ sẽ lớn hơn nếu thai phụ bị tiền sản giật nhiều lần hoặc sinh non. Để giảm thiểu nguy cơ này, sau khi sinh cố gắng duy trì cân nặng như trước sinh, ăn nhiều trái cây và rau cải, tập thể dục đều đặn và không hút thuốc.

PHÒNG NGỪA

Cho đến nay vẫn không có chiến lược rõ ràng nào xuất hiện. Ăn ít muối, thay đổi hoạt động, hạn chế calo, hoặc tiêu thụ tỏi hoặc dầu cá không làm giảm nguy cơ tiền sản giật. Việc tăng lượng vitamin C và E không cho thấy có lợi.

Một số nghiên cứu đã báo cáo một mối liên hệ giữa thiếu vitamin D và tăng nguy cơ tiền sản giật. Tuy nhiên, trong khi một số nghiên cứu cho thấy mối liên quan giữa việc bổ sung vitamin D và giảm thiểu nguy cơ tiền sản giật, thì những nghiên cứu khác không cho thấy mối liên quan.

Tuy nhiên, trong một số trường hợp nhất định, bạn có thể giảm nguy cơ tiền sản giật bằng cách:

  • Sử dụng aspirin liều thấp. Nếu thai phụ gặp một số yếu tố nguy cơ nhất định, bao gồm tiền sử tiền sản giật nặng, tiền sản giật dẫn đến sinh non, tăng huyết áp mạn tính hoặc tiền sử bệnh thận, bác sĩ có thể khuyên nên sử dụng aspirin liều thấp hàng ngày – từ 60 đến 81 miligam trong khoảng cuối tam cá nguyệt đầu tiên.
  • Bổ sung canxi. Ở một số nơi, phụ nữ bị thiếu canxi trước khi mang thai và những người không có đủ canxi trong suốt thai kì thông qua chế độ ăn uống có thể được bổ sung canxi để phòng ngừa tiền sản giật.

 

Nguồn bài viết:    https://www.mayoclinic.org/diseases-conditions/preeclampsia/symptoms-causes/syc-20355745

Nguồn ảnh:           http://birthinjuryadvocate.com/defect-lawsuit/preeclampsia-high-blood-pressure/

https://www.huggies.com.au/pregnancy/complications/preeclampsia

 

Quang Huy Y15

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s