PRION- TÁC NHÂN GÂY BỆNH MỚI

I. Những trường hợp phát hiện liên quan đến prion đầu tiên:

Gần đây, báo đài đưa tin về một loại dịch bệnh biến hươu nai thành xác sống (zombie) và có những nghi vấn cho rằng điều này liên quan đến prion– loại tác nhân gây bệnh hoàn toàn khác những vi khuẩn hay virus:

prion1

Hóa ra đây không là trường hợp đầu tiên, mà gần 100 năm trước, những ca bệnh nghi vấn có nguồn gốc từ prion đã từng được tìm thấy:

+Năm 1936, hai nhà thú y Pháp là Chelle và Cuille đã phát hiện ra một chứng bệnh ở cừu làm con vật này bị điên. Phẫu thuật sâu cho thấy tình trạng viêm não ở những con cừu này và bệnh này có khả năng lây truyền.

+Khoảng năm 1957, Zigas (Úc) và Gajdusek (Mỹ) mô tả bệnh có tên là Kuru xảy ra đối với 2600 cư dân ở Papua New Guinea. Triệu chứng là: mất khả năng phối hợp động tác (như Parkinson), mất trí (như Alzheimer) dẫn đến cái chết. Trước đó những người này có tham gia nghi lễ ăn não người chết theo tập tục. Năm 1958, bệnh này biến mất sau khi tập tục này được bãi bỏ.

+Điểm chung là các triệu chứng đều đến rất muộn, nảy sinh giả thuyết là bệnh do một loại virus chậm (slow virus) gây ra.

prion2

II. Lịch sử tên gọi và việc phát hiện prion:

Người ta để ý rằng não của bộ tộc Guru năm 1957 và não những con cừu năm 1936 có điểm chung, đó là những vết thủng lỗ chỗ trên não, và đồng thời bệnh có khả năng lây truyền. Đó là lí do họ gọi đây là bệnh viêm não thể xốp bán cấp có khả năng lây truyền (ESST).

prion3

Tikvah Alper và các đồng nghiệp ở bệnh viện Hammersmith (London) đã chỉ ra tác nhân gây bệnh não xốp ở cừu hình như không có acid nucleic. Các chiết xuất từ não của những con cừu bị lây nhiễm vẫn giữ được khả năng lây nhiễm khi mất đồng thời cả ADN và ARN (khi các phân tử của chúng bị phân giải bởi bức xạ cực tím hoặc bức xạ ion). Từ đó ta thấy rằng tác nhân lây truyền không còn là một virus, cũng không phải một vi sinh vật khác.

Vậy nó là gì?

Năm 1974, Stanley Prusiner sau nhiều cuộc thử nghiệm đã nhận thấy rằng việc giảm khả năng gây nhiễm phụ thuộc vào sự biến tính protein chứ không phải là sự thoái hóa acid nucleic. Phát hiện quan trọng này đã khẳng định nhân tố gây bệnh là protein (mà ông đặt tên là prion-infection protein), khác so với những nhân tố gây và truyền bệnh thông thường.

Nhưng là một protein thì thông tin di truyền của nó nằm ở đâu?

 

III. Đặc điểm của prion:

Bruno Oesch đã chỉ ra rằng cơ thể chuột nhắt, động vật có vú hay thậm chí con người cũng có gen mã hóa cho protein prion, mà họ gọi là PrP. Điều đó cho thấy động vật bình thường cũng có khả năng sản sinh prion.

Nhưng tại sao chúng ta lại không bệnh?

Hóa ra PrP có 2 dạng:

+PrP bình thường, vô hại: có thể được phân hủy bởi enzyme protease.

+PrP bất thường, có hại: kháng lại sự phân hủy của protease, tích tụ trong cơ thể.

prion4

 

IV. PrP bệnh lý là một dạng đột biến?

Như ở hình trên, ta nhận thấy điểm khác biệt quan trọng nhất giữa cấu trúc PrP bình thường và đột biến. Đó là dạng cấu trúc bậc 4: xoắn alpha (alpha helix) hay nếp gấp beta (beta helix). Người ta giả thiết rằng các PrP bất thường (bệnh lý) chính là dạng đột biến chuyển cấu trúc từ các PrP bình thường.

Liên quan đến đột biến protein, các chứng bệnh liên quan lại đến rất chậm. Vì sao vậy?

Các PrP được mã hóa bởi protein đột biến vẫn chưa có cấu trúc PrP gây bệnh, mà sự đột biến này chỉ làm sinh một protein có khả năng thay đổi cấu trúc dễ dàng. Sự tích tụ dần dần đột biến mới làm sinh PrP bệnh lý, đó là lí do vì sao các triệu chứng thường đến rất muộn.

Prusiner năm 1988 đã phát hiện ra đột biến điểm giữa những người bệnh có PrP bệnh lý và người bình thường. Cùng với phát hiện vai trò prion năm 1974, ông đã được nhận giải Nobel Sinh Lý học năm 1998.

Đến nay, cơ chế lây truyền bệnh của prion vẫn còn đang được nghiên cứu.

 

V. Sinh bệnh học:

Điều nguy hiểm về PrP bệnh lý là khả năng chuyển đổi qua lại rất linh hoạt giữa nó và PrP bình thường.

Các lỗ thủng trong não xuất hiện là do sự chuyển PrP thường thành PrP bệnh. Các PrP có hại này tự nhân lên trong lyzosome, làm lyzosome đầy những tế bào bị hư, khi vỡ ra làm thủng não và giải phóng prion tấn công các tế bào khác. Sự nhân đôi này là nhân tố chính đầu độc các neuron cũng như hệ thần kinh trung ương do sự kháng lại cơ chế giáng hóa thông thường.

Tuy nhiên, chính do sự biến đổi linh hoạt nên một số cấu tạo PrP đặc biệt tấn công vùng neuron nhất định, trong khi dạng prion khác lại ở trạng thái bình thường, hay nó có thể chuyển thành dạng bệnh lý khác tấn công neuron khác, gây ra hội chứng đa dạng.

 

VI. Yếu tố nguy cơ?

Khoa học đã chứng minh rằng prion gặp trở ngại khác loài qua việc rất khó truyền bệnh từ cừu sang loài gặm nhấm.

Tuy nhiên, càng gần nhau trên nấc thang tiến hóa thì khả năng lây truyền càng cao, đặc biệt là qua các thủ thuật y tế không cẩn thận hoặc việc ăn thịt các sinh vật nhiễm bệnh. Điều này đã được chứng minh bằng sự lây bệnh từ bò sang cừu hay từ người sang người ở các bộ tộc ăn thịt người. Đó là lí do việc săn lùng để ăn thịt khỉ, đặc biệt là não khỉ hoàn toàn không đúng cả về mặt bảo vệ môi trường hay y học khi nó có khả năng rất cao khiến chúng ta nhiễm prion có hại chứ không hề mang ý nghĩa “ăn não khỉ cho thông minh” như nhiều người đồn đại.

 

VII. Phát hiện:

Thường dùng phương pháp phát hiện kháng thể bằng ELISA hay Westemblot. Biểu hiện lâm sàng là giống Parkinson ở việc mất khả năng điều hòa động tác, giống Alzheimer ở việc mất trí nhớ, mất ngủ trầm trọng. Đôi khi cũng có triệu chứng như ở gia súc: ngứa run- không điều khiển được chân, ngứa cường độ mạnh. Gần đây đang có các bằng chứng chứng minh Parkinson và Alzheimer cũng có liên quan đến prion.

prion5

Do việc ủ bệnh là rất lâu nên việc phòng tránh các yếu tố nguy cơ là việc rất nên làm trước khi phát hiện muộn màng qua các biểu hiện lâm sàng hay xét nghiệm.

 

Tham khảo:

1/ http://tinquahay.com/dich-benh-dang-so-bien-huou-thanh-zombie-cac-chuyen-gia-lo-ngai-no-co-the-lay-lan-sang-nguoi-ai-co-nhung-bieu-hien-nay-nho-can-trong/

2/ http://visinhbachmai.vn/323/prion-tac-nhan-gay-benh-moi.html

3/ http://khampha.vn/khoa-hoc-cong-nghe/nguy-co-mac-benh-suy-thoai-than-kinh-do-di-truyen-c7a354281.html

4/ https://www.ncbi.nlm.nih.gov/pmc/articles/PMC4879966/

5/ http://slideplayer.com/slide/7941507/

 

 

 

 

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s