PHÒNG BỆNH TẠI NHÀ: VỆ SINH CÁ NHÂN ĐÚNG CÁCH

Chắc hẳn các bạn đã nghe hàng triệu lần từ “vệ sinh cá nhân”, và chắc rằng trong số chúng ta, hầu hết đều tự tin rằng mình làm vệ sinh cá nhân đúng cách. Liệu có thực sự vậy không? Hay xem câu trả lời trong bài viết sau nhé.

1. Vai trò của vệ sinh cá nhân
Giữ gìn vệ sinh cá nhân (VSCN) là để giữ gìn sức khoẻ, trước hết cho bản thân, sau đó cho
cộng đồng. Có không ít các bệnh phát sinh từ những trường hợp do VSCN rất kém như: bệnh ngoài da, răng miệng, mắt mũi. Người có VSCN tốt là người thể hiện được nếp sống văn minh của mình trong xã hội. Nếu thực hiện tốt VSCN tức là đã tạo cho bản thân mình một điều kiện thuận lợi trong việc bảo vệ và nâng cao sức khoẻ. Do dó, VSCN có tác dụng bảo vệ và nâng cao sức khoẻ, kéo dài tuổi thọ. VSCN góp phần làm cho con người lịch sự văn minh.


2. Nội dung của vệ sinh cá nhân
Vệ sinh thân thể và các giác quan.
Vệ sinh trang phục.
Vệ sinh ăn uống.
Vệ sinh trong học tập, lao động, vui chơi giải trí và trong giấc ngủ.
Vệ sinh kinh nguyệt.


3. Vệ sinh thân thể và các giác quan
Cơ thể và các giác quan là những bộ phận quan trọng của con người, giúp con người có
một hình dáng cân đối, hài hoà về thể chất và thẩm mỹ. Các bộ phận như da, lông, tóc,
móng là một lớp bao bọc và bảo vệ các cơ quan nội tạng của cơ thể. Các bộ phận này bị
tổn thương, nhiễm trùng, nhiễm bẩn thì cơ quan bên trong sẽ bị ảnh hưởng, do đó cần phải bảo vệ, giữ gìn da và các giác quan luôn sạch sẽ.
3.1. Giữ gìn vệ sinh da
Da là cơ quan nhận biết những đặc điểm của sự vật như nóng, lạnh, cứng mềm, nhẵn,
bóng… Da còn có chức năng điều hoà thân nhiệt giúp cơ thể thích nghi với môi trường bên ngoài, da là cơ quan bài tiết của cơ thể (mồ hôi, tuyến mỡ) và là nơi sản sinh ra vitamin D 
từ chất tiền vitamin D có ở trong da. Da cùng với các bộ phận của da (lông, tóc…) có tác dụng làm đẹp thêm cho con người nếu như chúng ta biết giữ gìn và bảo vệ chúng.


Các biện pháp giữ gìn vệ sinh da:
Thường xuyên tắm rửa bằng nước sạch (nước máy, nước mưa, nước giếng xây, nước
sông, hồ trong sạch…).
Về mùa hè nên tắm 1 lần/ngày; mùa đông (ở phía bắc) tắm bằng nước ấm ở nơi kín
gió, 2 đến 3 ngày tắm một lần. Khi tắm dùng loại xà phòng có độ sút nhẹ để cho da sạch
mà không bị hại. Không nên tắm vào các buổi trưa hè, tắm lâu hoặc khi cơ thể đang ra
nhiều mồ hôi.
Thường xuyên thay giặt quần áo bằng nước sạch, quần áo giặt xong phải phơi khô
dưới ánh nắng mặt trời hoặc nơi thoáng gió và sáng sủa, quần áo lót phải thay giặt hằng
ngày kể cả về mùa lạnh.
Móng tay, móng chân thường xuyên phải cắt ngắn. Tóc phải được cắt ngắn và chải
gọn hằng ngày. Trong vài ngày (2 – 5 ngày) phải gội đầu bằng dầu gội đầu hay xà phòng, lá xả, nước bồ kết 1 lần…
Phải tạo được thói quen đi giày, dép, guốc ở trong nhà và mỗi khi đi ra khỏi nhà (đi
làm việc, đi học, đi chơi…).


3.2. Giữ gìn vệ sinh mắt
“Mắt là cửa sổ của tâm hồn” cho nên phải giữ gìn và bảo vệ con mắt bằng các biện
pháp sau đây:
Mỗi người phải có một khăn mặt riêng – khăn mặt được giặt sạch sẽ bằng xà phòng
và phơi ở nơi có ánh nắng mặt trời hoặc nơi thoáng gió trong nhà.
Hằng ngày rửa mặt bằng nước sạch ở trong chậu hoặc dưới vòi nước.
Khám mắt theo định kỳ để phát hiện sớm các bệnh về mắt như: đau mắt hột, đau mắt
đỏ, cận thị…
Tránh những tai nạn, chấn thương cho mắt do những trò chơi nguy hiểm. Khi lao
động, mắt phải được đeo kính bảo vệ.


3.3. Giữ gìn vệ sinh răng – miệng
-Cũng như đôi mắt, hàm răng là một bộ phận làm tăng thêm vẻ đẹp và sự duyên dáng
của con người vì: “Cái răng, cái tóc là góc con người”. Muốn hàm răng đẹp và sạch, phải
thực hiện các biện pháp sau đây:
Vệ sinh răng lợi trước và sau khi ngủ.
Sau khi ăn, nhất là những thức ăn có chất đường, bột (bánh kẹo) phải đánh răng,
không nên ăn cùng một lúc thức ăn, đồ uống nóng và lạnh quá. Không dùng răng cắn
những vật rắn, cắn móng tay, mở nút chai, tước vỏ mía… (sẽ gây mẻ men răng).


3.4. Giữ gìn vệ sinh tai – mũi – họng
Tai – mũi – họng là 3 bộ phận có liên quan mật thiết với nhau, đặc biệt là trong bệnh
học – khi tai bị viêm thường có ảnh hưởng đến mũi, họng.
Các biện pháp giữ gìn tai – mũi – họng:
Luôn giữ sạch tai, hằng ngày rửa vành tai, mặt sau tai, ống tai bằng khăn mặt sạch.
Không dùng các vật cứng, nhọn để chọc vào tai (lấy ráy tai) không hét to vào tai hoặc
đập mạnh vào vành tai người khác.
Khi tai có mủ phải dùng bông lau thấm cho hết và đi khám chuyên khoa.
Đối với mũi: không dùng vật nhọn, cứng, chọc vào lỗ mũi, không đập mạnh tay hay
vật cứng vào cánh mũi. Luôn luôn lau sạch hai lỗ mũi bằng khăn mặt mỏng, ướt.
Khi chảy máu cam, ngồi yên, rồi dùng hai ngón tay bóp chặt lấy 2 cánh mũi trong vài
phút hoặc lấy bông sạch nút vào lỗ mũi bị chảy máu cam cho đến lúc ngừng chảy mới thôi.
Đối với họng: không hút thuốc lá, uống rượu, vì thuốc lá, rượu đều có khả năng gây
hư hại đến niêm mạc họng. Về mùa lạnh luôn luôn giữ cho họng được ấm. Khi họng bị
viêm (đỏ hay trắng), viêm amidan phải đến chuyên khoa để khám.


4. Vệ sinh trang phục
-Trang phục bao gồm những phương tiện bảo vệ con người tránh khỏi những tác động
có hại của thiên nhiên… đến cơ thể. Trang phục bao gồm: quần áo mặc ngoài, quần áo lót,
mũ nón, giày, dép, guốc và các loại khác như tất, găng tay, khăn quàng cổ, khăn mùi xoa…


-Trang phục là một trong những biểu hiện sự văn minh của một dân tộc. Thông qua
trang phục chúng ta có thể đánh giá được một phần trình độ văn hoá, nếp sống văn minh
của một con người, một địa phương.


Các biện pháp vệ sinh trang phục:
Phải thường xuyên thay đổi trang phục. Sau khi thay, phải giặt giũ, phơi dưới trời
nắng hay nơi thoáng gió. Quần áo lót phải thay đổi hằng ngày, sau khi tắm rửa. Các loại
quần áo lót được giặt giũ phải phơi dưới trời nắng.
Cỡ quần áo phải vừa với cỡ người không chật quá và không rộng quá, vải phải thấm
nước và mồ hôi, màu sắc phải phù hợp với thời tiết.
Mũ nón: Vừa đủ rộng để che nắng, mưa nhưng phải đảm bảo mỹ quan, không được
bí hơi làm mồ hôi không thoát ra được khi đội, đặc biệt là mũ; Có màu sắc phù hợp, mùa
hè màu sáng, mùa đông màu sẫm.
Giày, dép phù hợp với cỡ bàn chân của người sử dụng (không chật, không rộng)
không quá nặng với sức mang của chân, không quá cao (trên 7cm) nếu quá cao sẽ làm cho trọng lượng cơ thể không rơi đúng trọng tâm, làm xấu dáng người.


5. Vệ sinh ăn uống
Vệ sinh ăn uống là một trong những nếp sống vệ sinh cơ bản của một người có văn
hoá, nếu không biết giữ vệ sinh khi ăn, uống thì không những vi phạm về phép văn minh, lịch sự trong gia đình, nơi công cộng mà còn có thể mắc một số bệnh liên quan đến lương thực, thực phẩm; hoặc bị một số tai nạn trong khi ăn uống như nghẹn, sặc, hóc…


Có 5 điểm cần nhớ trong vệ sinh ăn uống như sau:
Ăn đủ chất – đảm bảo trong khẩu phần ăn có đủ các thành phần: đạm, béo, đường bột,
chất khoáng hoà tan, vitamin, nước… Ăn đủ số lượng để cung cấp đủ lượng calo (năng
lượng) cho nhu cầu của cơ thể (từ 2200 – 2500 Kcalo).
Đảm bảo cân đối giữa các thành phần trong khẩu phần, không quá thiếu và cũng
không quá thừa, khẩu phần ăn phải cân đối với nhu cầu của cơ thể.
Ăn phải sạch sẽ: Thực phẩm phải tươi sống, không ôi thiu, ươn, thối, dập nát, úa
vàng. Thực phẩm phải được rửa sạch bằng nước sạch, loại bỏ các phần bị nhiễm bẩn trước khi chế biến. Thực phẩm phải được đun nấu kỹ, bảo quản ở nơi kín để không cho ruồi, chuột, dán động vào, nhưng phải thoáng để thức ăn không bị ôi thiu.


Ăn uống văn minh, lịch sự: Phải rửa tay và bát đĩa, chén, đũa… sạch sẽ trước khi ăn.
Trong lúc ăn hạn chế nói chuyện, cười đùa, khạc nhổ để tránh nghẹn, sặc, hóc… Không ăn quá vội vàng, ăn quá nhiều, ăn từ tốn, thời gian đảm bảo cho một bữa ăn từ 20 – 30 phút.
Uống hợp vệ sinh: Có nhiều loại nước uống (nước đun sôi để nguội, nước ngọt, nước
khoáng…) dù là loại nước nào đều phải đảm bảo vô trùng, không có chất độc hoà tan. Khi
uống phải uống từ từ nhất là khi có cảm giác khát, không được uống quá nhiều, quá vội, trong một thời gian ngắn. Trước khi đi ngủ không nên uống nhiều sữa, cà phê hay nước chè đặc.


6. Vệ sinh trong học tập, lao động, vui chơi giải trí và trong giấc ngủ
6.1. Vệ sinh giấc ngủ
Giấc ngủ là một trạng thái đặc biệt của cơ thể, giữ phần quan trọng nhất trong chế độ sinh hoạt hằng ngày của con người, muốn cho giấc ngủ tốt, cần thực hiện một số điều sau đây:
Ngủ đủ số giờ quy định cho từng độ tuổi, tuổi càng nhỏ ngủ càng nhiều. Ví dụ: từ 7 –
15 tuổi ngủ từ 9 – 11 giờ trong ngày đêm, người lớn ngủ từ 7 – 8 giờ trong một ngày đêm.
Đi ngủ và thức dậy (kể cả ngủ trưa) phải đúng giờ.
Tránh ăn no, uống quá nhiều, dùng các chất kích thích trước khi đi ngủ (cà phê, nước
chè đặc).


6.2. Vệ sinh trong học tập
Học tập như thế nào cho tốt, không ảnh hưởng đến sức khoẻ thì phải biết giữ vệ sinh
một số điều sau:
Thực hiện đúng thời khoá biểu của nhà trường. Đi học đúng giờ, ít nhất phải đến lớp
trước giờ học 10 – 15 phút để có thời gian hồi phục hệ tim mạch.
Lớp học, góc học tập phải sáng sủa, thoáng mát, yên tĩnh.
Bàn ghế ngồi học phải phù hợp với tầm vóc của bản thân (không quá cao hoặc thấp
quá…).
Học ở nhà phải có thời gian biểu, góc học tập đảm bảo sáng sủa, thoáng khí và yên
tĩnh. Ngồi học phải thoải mái tránh gò bó. Không được học quá khuya làm ảnh hưởng đến giấc ngủ.


6.3. Vệ sinh trong lao động
Lao động phải phù hợp với sức khỏe của từng giới (nam, nữ) và độ tuổi để tránh quá
sức, dễ dàng gây ra tai nạn lao động.
Cường độ lao động, thời gian và vị trí lao động, phải phù hợp với từng độ tuổi.
Không lao động quá lâu ở ngoài trời nắng hay nơi có nhiều bức xạ.
Công cụ lao động phải phù hợp với độ tuổi, phải có phương tiện phòng hộ khi làm
những công việc cần thiết.


6.4. Vệ sinh trong nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí
Nghỉ ngơi chủ động (nghỉ ngơi tích cực) như chơi thể thao, câu cá, tắm biển, leo núi,
tham quan, cắm trại, thưởng thức văn nghệ… Tuỳ theo trạng thái tâm lý của độ tuổi và sức khoẻ từng người.
Nghỉ ngơi thụ động: Sau một ngày lao động nặng nhọc, sau một đợt lao động kéo dài
hoặc sau khi đi một chặng đường dài… cơ thể mệt mỏi, cơ bắp ở trạng thái căng thẳng…
Lúc đó cần phải cho cơ thể ở trạng thái nghỉ ngơi bằng các hình thức: nằm nghỉ ở tư thế
thoải mái hoặc ngồi giải lao uống nước, nghe ca nhạc, xem video, nói chuyện, đọc sách,
đọc báo…


6.5. Vệ sinh kinh nguyệt
-Máu kinh nguyệt là môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, vì vậy khi máu
kinh đọng lại ở âm hộ sẽ dễ dàng làm nhiễm khuẩn đường sinh dục.
Thông thường khi hành kinh nên rửa vùng âm hộ bằng nước ấm, sạch với xà phòng
tắm. Mỗi lần rửa xong, phải thay băng vệ sinh.
-Khi hành kinh nên thay băng khoảng 3 – 4 giờ một lần, không nên sử dụng một miếng
băng quá 6 giờ, vì nếu để lâu máu kinh sẽ trở nên có mùi “khó ngửi” và là môi trường cho vi khuẩn gây bệnh phát triển. Khi hành kinh vẫn có thể tắm như bình thường, tốt nhất là tắm bằng nước ấm, không nên ngâm mình trong bồn tắm hay trong nước ao hồ. Không sinh hoạt tình dục trong những ngày hành kinh vì dễ bị nhiễm khuẩn và làm cho người phụ nữ mệt mỏi thêm, tránh làm việc quá sức, thời gian lao động quá dài, quá căng thẳng vì dễ làm kinh ra nhiều và kéo dài, tránh đi lại nhiều, đi xa và làm việc lâu ở tư thế đứng.

Tham khảo:

Cao đẳng Y tế Hà Đông-Giáo trình Vệ sinh phòng bệnh-dinh dưỡng.

VP

This slideshow requires JavaScript.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s